Danh Ngôn

Sẽ có một cuộc chạy đua giữa quần chúng tự học và quần chúng tự hủy.

There is going to be a race between mass self-education and mass self-destruction.

Nhà sử học Arnold J. Toynbee (1889-1975). “Conditions of Survival,” Saturday Review, 29 tháng Tám 1964.

Mục đích của toàn bộ giáo dục là, hoặc phải là, dạy cho người ta biết tự giáo dục chính mình.

The aim of all education is, or should be, to teach people to educate themselves.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). Surviving the Future, 5, 1971

Giáo dục bán thời gian suốt đời người là đường lối chắc chắn nhất để nâng cao trình độ tri thức và đạo đức của quần chúng.

Lifelong part-time education is the surest way of raising the intellectual and moral level of the masses.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). The Toynbee-Ikeda Dialogue: Man Himself Must Choose, 3, 1976

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Con Vẹm

Truyện Lê Kim Duy


Có ông anh ở Sài Gòn ra, một hôm cùng tôi đến nhà người quen chơi thấy hai mẹ con nhà chó xơ xác. Động lòng trắc ẩn, ông mở miệng:

- Cho tau xin con chó con.

- Anh ưa thì bắt đi! Chủ nhà cho một cách dễ dàng.

- Mai mốt vô rồi tau bắt. Ông anh bảo.

Ít hôm sau, đùng đùng thấy ông bê một thùng xốp vai mang ba lô ghé vô nhà, bảo:

- Bây cho tau gởi con ni đây, mai mốt tau ra tau lấy.

Không đợi gia chủ trả lời, ông quay lưng dông thẳng.

Hai vợ chồng tôi bế con chó ra khỏi thùng xốp, nhìn nhau ngao ngán. Con chó bé tí tẹo, bỏ lên cân được hơn ký, thân hình toàn rận.

Đọc Tiếng nói của Linda Lê


Vũ Thành Sơn

received_10214707495220005_thumb[1]

Linda Lê sinh ở Đà Lạt và lớn lên ở Sài Gòn. Khi cuộc chiến tranh khốc liệt gây chia rẽ và để lại nhiều bất hạnh cho người ở lại cũng như kẻ ra đi vừa dứt tiếng súng ở Việt Nam, Linda Lê rời bỏ quê hương đi Pháp năm cô 14 tuổi, đến Havre cùng với mẹ và các chị em. Năm 1981, cô chuyến hẳn đến Paris để bắt đầu sự nghiệp của một nhà văn lưu vong.

Việt Nam có lẽ là một trong số ít quốc gia có nhiều nhà văn lưu vong trên thế giới. Nhưng nên hiểu thế nào là một nhà văn lưu vong? Họ tự nguyện hay bị cưỡng bức sống một thân phận bị bứng khỏi gốc rễ để theo đuổi con đường văn chương? Văn chương, vì thế, là nơi chuyên chở tiếng nói u uất, phản kháng của thân phận lưu vong? Hay chính hành động viết tự thân nó đã bao hàm một tình trạng lưu vong rồi?

Trong một tiểu luận ngắn Văn chương lc loài (Littérature déplacée), Linda Lê thuật lại một câu chuyện xảy ra ở Việt Nam: Một thanh niên nông dân hai mươi tuổi được đưa vào bệnh viện cấp cứu vì bị những cơn đau bụng dữ dội hành hạ. Các bác sĩ phẫu thuật ở đó phát hiện trong ổ bụng của anh ta một cái bào thai hai tuổi đã chết, đầu đã có tóc, đủ cả hai chân và hai tay. Nguyên nhân là từ lúc người mẹ mang thai sinh đôi, một cái bào thai bị dị tật đã phát triển vào bên trong một bào thai khác. Trong hai mươi năm cái bào thai ấy vẫn tiếp tục lớn lên dần dần trong bụng của chàng thanh niên.

Tâm thế tự do trong sáng tạo thơ Thanh Tâm Tuyền

Lê Hồ Quang


Khi cho rằng nghệ thuật “là sự tiêu hủy để sáng tạo, là sự tiêu hủy quy định bởi sự sáng tạo” [1], Thanh Tâm Tuyền đã thực sự biến tự do, từ một motip chủ đề quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn, trở thành một phạm trù mĩ học mới, khác biệt. Cảm hứng triết luận về tự do thực sự là “chủ âm” trong thế giới nghệ thuật thơ ông, chính nó đã tạo nên mối liên kết bề sâu của các yếu tố cấu thành gương mặt thơ cách tân độc đáo này [2]. Từ một điểm nhìn cụ thể - tâm thế tự do trong sáng tạo thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi muốn góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí, giá trị của ông trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Trong phạm vi bài viết, chỉ xin giới hạn ở những nội dung trình bày sơ giản nhất.

***

Đề cao hết mực tự do tính, xem đó là bản chất của nhân vị và cũng là của nghệ thuật, đó là nội dung cốt lõi trong quan điểm sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, quan niệm tự do của ông, về căn bản, không giống các tác giả thơ tiền chiến. Khi Xuân Diệu viết: Lòng rộng quá, chẳng khung nào chịu hết/ Chân tự do đạp phăng cả hàng rào (Mênh mông), thì với tác giả này, tự do nghĩa là được suy nghĩ và hành động theo tiếng nói của nội tâm, cảm xúc, vượt ra khỏi sự kiểm soát của khuôn khổ luân lý xã hội vốn hẹp hòi, khắc nghiệt. Xuất phát từ xung đột mang tính lãng mạn chủ nghĩa giữa cá nhân với xã hội, khát vọng tự do này đồng nghĩa với khát vọng khẳng định cái tôi cá nhân, cá thể. Còn với Thanh Tâm Tuyền, tự do là hành động tư tưởng nhằm khẳng định giá trị hiện hữu của con người. Nó xuất phát từ sự tự ý thức, phản tỉnh, suy tư thường xuyên của cá nhân. Cá nhân tìm kiếm tự do, trước hết, bằng cách đấu tranh với chính mình nhằm loại trừ sự tồn tại vô ý thức, vô nghĩa, phi lý, để hướng tới một đời sống có ý thức, có ý nghĩa, có lý tưởng. Bằng hành động ấy, con người tự do lựa chọn là mình và đó mới là tự do đích thực. Tự do, do đó, là giá trị tinh thần cốt tủy của cá nhân, nhân loại: “Mỗi người đã chính một tự do(Tôi không còn cô độc).

Nhìn lại tình hình nông nghiệp Việt Nam những năm 60 thế kỷ trước

KỶ NIỆM 50 NĂM ĐẶNG KIM GIANG BỊ BỎ TÙ VÀ 100 NĂM NGÀY SINH KIM NGỌC, NHÌN LẠI TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NHỮNG NĂM 60 THẾ KỶ TRƯỚC – HAI QUAN ĐIỂM, HAI CHỦ TRƯƠNG.

Kim Trần

(Bài viết của tác giả gửi cho tôi, xin chia sẻ cùng các bạn. Những chỗ in đậm, in nghiêng, gạch dưới đều bị mất vì tôi không biết cách làm trong Facebook, mong các bạn thông cảm – Vũ Thư Hiên).

22554952_10214363093374986_4911518291448415258_n

Cảm nghĩ của một ông "Tây" khi đọc thơ Thái Bá Tân

FB Thái Bá Tân

Một ông Tây, Jason Gibbs, đọc thơ Thái Bá Tân và có lời bình bằng tiếng Việt. Hứng thú, ông còn dịch ra tiếng Anh. Các bác học tiếng Anh luôn thể.

*
NHIỀU LUẬT QUÁ

Lại thêm một luật nữa,
Phạt một trăm triệu đồng
Những ai dám nói xấu
Nhà nước mình. Sợ không?

Thế nào là nói xấu?
Nhà nước sai thì sao,
Yếu kém và tham nhũng,
Không lẽ không người nào

Thơ Trần Quốc Toàn

KHẢ THỂ

Ngày sẽ lạnh dần
Bóng mây trôi qua khỏi núi
Nốt nhạc giọt sương
Năm ngón tay gầy ruỗng.

Một người ngủ vùi mười năm trong ác mộng
Bỗng một đêm ngồi dậy bên ánh đèn
Con chuột chạy dưới gầm bếp
Ánh trăng soi trên nóc nhà
Một bông hoa nở lúc mờ sáng
Kim đồng hồ báo thức
Chiếc áo choàng khoác lên mùa đông.

Ký ức về xứ Cà ra

Truyện Trà Đóa


Có lần tôi được nghe một câu chuyện thú vị trong tiệc cưới của một khách hàng quen. Người kể là một ông trung niên với vẻ ngoài không có gì nổi bật. Hôm đó tôi ngồi ở một bàn gồm toàn người lạ, bởi tôi và chú rể chỉ quen nhau theo kiểu khách hàng: cậu ấy là người hay mua hàng do tôi đảm trách, vì vậy tôi chẳng biết ai khác ngoài cậu ta trong bữa tiệc hôm ấy. Tôi đã quen với tình cảnh như vậy lâu rồi. Công việc bán hàng chỉ đủ sức tạo ra những mối quan hệ đơn độc, tạm bợ và mong manh. Thường ở những trường hợp như trên, tôi hay bị rơi vào một tình huống mà trong đó hầu hết mọi người đều có cùng cảnh ngộ.

Thật vậy, hôm ấy chúng tôi ngồi đó, chẳng ai biết ai, chẳng ai nói năng gì, và chờ đợi cho tàn tiệc. Trong không khí có phần e dè ấy thì sự cởi mở của ông trung niên đã cứu cho chúng tôi khỏi cái buồn tẻ đến khó chịu của một buổi tối cuối tuần. Trước tiên ông ấy chủ động hỏi han từng người với một nụ cười khẩn thiết trên môi. Để sau đó chúng tôi biết rằng, ít ra cũng có điểm chung trong cái tổ hợp tình cờ ấy, vì hầu hết đều là dân bán hàng và chỉ quen cô dâu hay chú rể theo kiểu độc nhất mà tôi vừa kể. Tôi chờ đợi ông ấy giới thiệu về mình và cũng chẳng ngạc nhiên khi biết ông cũng từng là một người bán hàng. Nhưng trong các thông tin mà ông tự nhận có nét gì đó chung chung, có thể dùng để chỉ cho bất kỳ ai. Nghĩa là nó không rõ ràng về bất cứ phương diện nào của một cá nhân. Nhưng trong một tiệc cưới, đó là cách nói cho qua chuyện và cũng chẳng ai thắc mắc gì.

Điểm sách Tuyển tập chân dung văn học nghệ thuật & văn hoá của Ngô Thế Vinh

Nguyễn Văn Tuấn


Đây là một công trình mang tính anthology hay “hợp tuyển tác giả” vừa công phu vừa mang tính sử của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Mười sáu văn nghệ sĩ và hai nhà văn hoá được giới thiệu trong sách là những tác giả lừng danh trong nền văn học miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau năm 1975. Qua công trình này, bạn đọc sẽ "gặp" những tác giả nổi tiếng, những người đã có những đóng góp mang tính định hình cho nền văn học miền Nam trước 1975. Công trình này, tự nó, là một đóng góp quan trọng và có ý nghĩa vào công việc lâu dài nhằm gìn giữ những tinh hoa của văn học nghệ thuật miền Nam cho các thế hệ mai sau.

Mặc dù Nhà văn Ngô Thế Vinh sắp xếp tác giả theo năm sinh, nhưng tôi nghĩ cuộc đời, những tác phẩm, và hành trình sáng tác của các tác giả trong hợp tuyển này phác họa một trình tự khác. Đó là trình tự theo dòng lịch sử gồm bốn giai đoạn: bối cảnh văn học miền Nam trước 1975, tù đày, vượt biển, sống sót.

Văn học miền Nam 54-75 (445): Túy Hồng (15)

Tôi nhìn tôi trên vách (kỳ 12)

Nghiễm nằm dưỡng bệnh đã đúng hai tháng. Thời gian trườn mình vào cõi buồn với những ngày không mùi vị và những đêm đắng chát. Chồng tôi hôn tôi thì tôi nhắm mắt, chồng tôi vuốt tóc tôi thì tôi bặm miệng. Tình yêu bây giờ nhạt nhẽo như khuôn mặt đàn bà không gia vị phấn son. Dĩ vãng nguội, hiện tại hâm hấp sốt, và tương lai thì nhất định là nỗi hàn to rộng. Khi vào tương lai chắc chắn cả Nghiễm cùng tôi đều lạnh. Thỉnh thoảng từng đêm, Nghiễm bỏ chỗ ngủ của chàng leo lên giường tôi nằm xuống mé ngoài. Chàng hất cái gối dưới đầu tôi để thế cánh tay vào, chàng đạp chiếc mền tôi đang kẹp giữa hai đùi để chàng gác lên tôi. Tôi nằm im như khi tôi nằm im đợi mũi thuốc dưỡng thai chích vào mông. Và tôi nằm im như một bà thứ phi tội lỗi bị biếm vào cung lạnh, lì ra như một khúc gỗ lớn mà người thợ mộc chưa cưa may thành áo quan. Xác thịt có danh dự của xác thịt, xác thịt của tôi phản đối công phẫn, xác thịt của tôi bất khuất, những bắp thịt gan lì, từng tảng da căm giận, tôi quặn đau tới chín chiều gan ruột, tôi nằm im, tôi nằm như đông lạnh trên giường. Nghiễm ngoại tình tôi có chứng kiến và tôi có chứng cớ. Nghiễm làm cho tôi mất niềm tin rồi và Nghiễm cũng làm cho xác thịt của tôi mất niềm tin rồi. Tôi cầu viện tất cả sự lạnh lùng tôi có để giải vây cho xác thịt lâu nay sung sướng làm nô lệ, khoan khoái làm nô lệ.

Cố Hương của Lỗ Tấn – Một thoáng chim và người

(Tùy bút nghiên cứu)

魯迅《故》人獸鳥魚之一瞥

Lê Thời Tân

Thân mến gửi tặng Huy Dũng Phan huynh

1. Cố Hương – cá nước chim trời

Tự sự trong truyện Cố Hương có đoạn kể Nhuận Thổ bẫy chim:

“Hôm sau, tôi rủ hắn bẫy chim. Hắn nói: – Không được đâu! Phải chờ tuyết xuống cho nhiều đã. Làng em toàn đất cát, hễ tuyết xuống thì em quét lấy một khoảnh đất trống; dùng một cái que ngắn chống một cái nong lớn, rắc ít lúa lép, thấy chim tước xuống ăn, đứng đằng xa giật mạnh sợi dây buộc vào cái que, thế là chim bị chụp vào nong hết. Thứ nào cũng có: sẻ đồng, chào mào, "bột cô", sẻ xanh lưng. Vì thế, tôi lại càng chờ ngày tuyết xuống.” (bản dịch Trương Chính, dẫn theo Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục, 2012, tr.210).[1]

Tuổi nhỏ đọc Cố Hương thấy kể chuyện Nhuận Thổ bẫy chim bắt được “sẻ đồng, chào mào, "bột cô", sẻ xanh lưng” (bản dịch Trương Chính) cứ nghĩ Trung Quốc chim chóc có loài cũng giống bên ta. Cố Hương trước bản dịch Trương Chính đã có bản dịch Phan Khôi Làng Quê. Cụ Phan Khôi có nhắc chuyện dịch tên các loại chim vừa nói: “Lại có những danh từ tra tự điển không có, không biết hỏi ai, dịch liều cho qua việc, như bốn thứ chim "đạo kê, giác kê, bột cô, lam bối" mà dịch là "sáo, cưởng, chim gâu, chim sả", may ra chỉ trúng được hai thứ sau. Sự dịch liều ấy là một cái lỗi lớn, mong về sau tìm biết được sẽ chữa lại cho đúng.” (Lời người dịch, Tuyển tập Tiểu thuyết Lỗ Tấn, Nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1955. Dẫn lại theo Phan Khôi – Viết và Dịch, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn). Đọc những lời của cụ Phan Khôi không hiểu sao chúng tôi lại nhớ đến chuyện từng có thủa anh em chúng bạn mỗi đứa từ một miền quê gặp nhau một chỗ không dưng lại mang chuyện cào cào hay châu chấu, tôm hay tép ra luận với nhau cả buổi. Sẻ, chào mào, sáo, cà cưỡng, cu gáy rõ là “chim Việt” mà mấy chữ phiên âm Hán Việt "đạo kê, giác kê, bột cô, lam bối" nghe cũng quen tai. Chả phải là trước khi thấy hoa tulip Hà Lan nhập khẩu, một dạo dài chúng tôi chỉ biết gọi “uất kim cương”. Hỏi ra có người lại bảo “kim cương” ở đây chính là gọi nhầm từ “kim hương” (鬱金香). Thật là hạnh phúc khi vừa đọc truyện Khóm phúc bồn tử của Chekhov vừa được thưởng thức quả mâm xôi! Bao nhiêu loài chim và hoa phương Tây nhắc đến trong bao thiên truyện đã được dịch sang tiếng Việt theo cách dịch qua cách gọi của người Trung Quốc (phiên âm thành “từ Hán Việt”)? Và bao nhiêu giống hoa điểu kể đến trong văn chương Trung Hoa đã tìm thấy tên gọi “thuần Việt” khi dịch sang Việt ngữ? Chúng tôi không rõ Cố Hương đã được dịch ra bao nhiêu thứ tiếng nhưng việc thiên truyện có tới không dưới bốn bản dịch như ở tiếng Việt (có bản dịch dịch lại từ bản dịch tiếng Anh) có lẽ không phải là hiện tượng tầm thường.[2] Đọc một lượt các bản dịch Việt ngữ, độc giả có thể thấy “tên gọi” 故鄉 (tên truyện mà cũng là từ mà nhân vật tôi – người kể chuyện chọn để gọi quê nhà của mình) đã lần lượt được “dịch” thành “làng quê”, “cố hương”, “quê nhà”, “quê cũ”, “làng cũ”, “làng”. GS Trương Chính dùng từ “Cố Hương” làm nhan đề thiên truyện nhưng vào truyện lại dịch thành “làng cũ”, trong lúc nhà văn Mai Kim Ngọc chọn nhan đề “Quê Cũ” mà vào truyện thì dùng lại từ “cố hương”. Ai cũng cảm nhận được những “xê dịch” ngữ nghĩa nhất định giữa các từ đó nhưng chắc chả có ai lại nghĩ xê dịch như thế thì sẽ làm thay đổi cái “quy chiếu” của toàn thiên truyện. Những con chim mà ta nhắc đến trên kia đương nhiên cũng nằm trong cái đại “quy chiếu” ấy. Những con chim đó và cả con thú ăn dưa hấu, vỏ các loại sò và tên của loài cá trong thiên truyện này lẽ nào lại không tạo cho ta cơ hội vươn mình lên trên bụi bờ gai góc của dịch thuật để lay động một chút bóng cả của quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực; giữa ngữ nghĩa đại từ, danh xưng thực chỉ – phiếm chỉ và ý nghĩa quy chiếu cá thể người–vật cho chí tập thể giới–loài... Phiên dịch làm gì trong công cuộc xê xịch giữa văn chương và đời sống đó?

Che Guevara: Xung quanh vụ hành quyết 8-10-1967

Nicolas Casey

Hiếu Tân dịch

LA HIGUERA, Bolivia

Bà Irma Rosales, mệt mỏi sau nhiều thập niên trông coi tiệm hàng nhỏ của bà, một buổi sáng ngồi với một chiếc hộp đầy ảnh và nhớ đến người đàn ông lạ mặt bị bắn trong ngôi trường địa phương 50 năm trước.
Bà nói, tóc ông ấy dài và mượt, quần áo bẩn như quần áo thợ máy. Bà nhớ lại, trước khi loạt súng vang lên, khi bà bưng đến cho ông bát xúp ông không nói gì cả. Che Guevara đã chết.

Hôm nay đánh dấu nửa thế kỉ hành hình Guevara, chàng bác sĩ Argentine, tên khai sinh là Ernesto, người lãnh dạo các chiến sĩ du kích từ Cuba đến Congo. Ông đưa Mỹ vào thế kẹt trong cuộc xâm lăng ở Vịnh Con Lợn, ông thuyết giảng trên bục của Liên Hợp Quốc, và ca tụng trật tự thế giới mới trong đó ưu thế thuộc về những nước trước đây bị các siêu cường gạt ra bên rìa.

Trong hồn người còn tiếng nói nào không?

FB Nguyễn Việt Chiến

Tham luận bằng thơ của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến tại Cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh Đại đoàn kết dân tộc” với sự tham dự của 100 nhà văn trong nước và hải ngoại tại Hà Nội. Ban Tổ chức đã mời nhà thơ Nguyễn Việt Chiến lên đọc tham luận thơ này nhưng vì thời gian còn ít quá nên đã nhường cho một nhà văn nữ ở Pháp lên phát biểu ý kiến (hôm nay 20/10 là ngày Phụ nữ VN)
Nguyễn Việt Chiến

TRONG HỒN NGƯỜI CÒN TIẾNG NÓI NÀO KHÔNG?

Đêm mưa lớn, mẹ chong đèn thao thức
Lũ cuốn trôi ngập xoá những cánh đồng
Con tự hỏi, ngọn đèn kia tự hỏi:
Trong hồn người còn thao thức nào không?

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 12)

Hoàng Tuấn Công


D. GIẢI THÍCH SAI NGHĨA ĐEN, HOẶC KHÔNG GIẢI THÍCH

GHI SAI, GHI NHẦM DẪN ĐẾN HIỂU SAI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ

Thông thường, thành ngữ, tục ngữ dân gian đều có nghĩa đen (điều có thật, chuyện thực tế diễn ra như thành ngữ, tục ngữ nói) và nghĩa bóng (hàm ý của câu thành ngữ, tục ngữ). Nhiệm vụ của người làm từ điển (nếu khoa học, chặt chẽ) phải giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng và cách dùng của thành ngữ tục ngữ. Thậm chí, thành ngữ, tục ngữ có mấy cách hiểu về nghĩa đen, mấy cách hiểu về nghĩa bóng, quan điểm riêng của tác giả ra sao, hoặc những thành ngữ hiện chưa rõ nghĩa đen thế nào, chỉ biết nghĩa bóng và cách dùng, cũng cần nói rõ. Tuy nhiên, cách biên soạn của GS Nguyễn Lân khá tuỳ tiện. Có câu giải thích nghĩa đen, có câu lại lờ đi, giải thích nước đôi, chung chung, hoặc giải thích sai nghĩa đen, dẫn đến hiểu lầm hoàn toàn ý nghĩa thành ngữ, tục ngữ:

○ “bán bò tậu ễnh ương Chê kẻ không biết làm ăn”.

Câu này không được giải thích nghĩa đen. Vậy “ễnh ương” là con gì, nó có phải là một giống bò không? Tại sao có người vụng tới mức bán bò đi để mua con ễnh ương về nuôi?

Ễnh ương (花狭口蛙 - Kaloula pulchra) thuộc họ ếch nhái, đầu và bốn chân nhỏ, nhưng bụng lại rất to. Môi trường sống của chúng là các khu vườn hoang rậm, ẩm thấp, nhiều lá rụng, hay ngập nước. Ễnh ương giao phối, sinh sản vào mùa mưa, và thường phát ra tiếng kêu to “ộp...ương...ộp...ương...” kéo dài để gọi “bạn tình”. Đặc biệt, khi kêu thì bụng ễnh ương càng phình ra tợn (“ễnh”, mô tả cái bụng to, “ương” gợi tả tiếng kêu mà thành tên). Thế nên, loại bò gầy, suy dinh dưỡng, bụng ỏng đít beo, được dân gian ví với con ễnh ương (vùng Thanh Hoá còn gọi là “bò cóc”), lại có thành ngữ “Bụng như bụng ễnh ương”.

Văn học miền Nam 54-75 (444): Túy Hồng (14)

Tôi nhìn tôi trên vách (kỳ 11)

Đầu hôm Sanh vào thăm tôi với một bó hồng đỏ mười chiếc cắm vào bình hoa đầu giường. Cuối tháng Sanh đi Hoa Kỳ du học bốn năm dài, Sanh nói cái tin đi với vẻ mặt buồn. Tôi cười chắc anh lấy vợ ngoại quốc luôn…

– Anh Sanh sao cứ chua cay với chị Khanh hoài, chị Khanh có chồng rồi… tại răng anh ấy không đi hỏi bà Trâm cho tiện. Thảo bảo.

– Anh Sanh qua năm bảy mối tình rồi mà chưa có vợ, chắc anh ấy bất lực liệt dương. Trâm giẫy nẩy.

Bệnh lành rồi, tôi vào ngay nhà thương thăm Nghiễm. Chàng có vẻ khá hơn, da mặt thấy thoáng ánh hồng, râu mép dài ra có vẻ tươi tốt. Nghiễm ngồi nhổm dậy khi tôi đâm bổ vào giường chàng. Chàng kêu, trời ơi, Khanh; trời ơi, Khanh …

Như Quỳnh de Prelle và văn chương tự do

Cảm ơn lời mời nhiệt tình của nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh và Thơ hiện thời Plus về cuộc trao đổi thú vị này. Cách đây 2 năm, khi tôi chính thức bắt đầu xuất hiện trên các trang văn chương tiếng Việt bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, tôi là một trong những người trẻ nhất tham gia chia sẻ về chủ đề thú vị này của ngày 30/4 và sự hoà giải hay không hoà giải từ nhiều phía, nhiều thế hệ. Để đi vào câu trả lời của Ban tổ chức, trước tiên tôi có đôi lời về chính thế hệ của mình, sự trưởng thành của chúng tôi, những người được sinh ra và lớn lên từ những năm 80 của thế kỷ 20, khi đất nước tạm ngừng tiếng súng.

Với tôi, văn chương là văn chương. Là chữ, ngôn ngữ. Là sáng tạo. Nghệ thuật. Khi văn chương phục vụ cho đảng phái, chính trị thì văn chương có sứ mệnh chính trị. Khi văn chương phục vụ cho bạn đọc, xuất bản thì văn chương có sứ mệnh với bạn đọc. Khi văn chương là văn chương, tự nó sống trong môi trường của chính nó bao gồm những người cùng giới, bạn đọc theo nghĩa rộng từ xuất bản online đến xuất bản truyền thống. Thế giới văn chương cũng đã đi xa và tiến bộ không chỉ là phong cách nghệ thuật hay phương tiện chia sẻ mà chính bạn đọc họ tự tìm đến tác phẩm cho chính mình. Người viết luôn luôn là những kẻ cô độc và độc lập, họ không phụ thuộc hoàn toàn vào bạn đọc để viết, để xuất bản, không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Tất cả các tác phẩm từ cổ xưa đến nay tồn tại là vì thế, họ viết từ chính nhu cầu và tài năng của họ. Không ai có quyền định hướng bạn đọc, tác phẩm tự nó trong lòng bạn đọc, người đọc. Người viết sinh ra tác phẩm, tự nó trưởng thành bằng sức mạnh của riêng nó, nội lực của nó. Tác phẩm chết yểu hay sống lâu chúng ta không có quyền phán xét và không nói ở chủ đề này.

Ngô Thế Vinh và 18 Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá

Phan Tấn Hải

Tuyen tap chan dung van hoc nghe thuat_ngo the vinh

Ngô Thế Vinh là người viết rất cẩn trọng, và tôi là người đọc ông rất trân trọng. Chữ của Ngô Thế Vinh không phải từ những giấc mơ hiện ra, nhưng là từ nỗi lo sâu sắc cho dân tộc và từ những bước chân đi xa nhiều ngàn cây số bên dòng Cửu Long để viết lên hai tác phẩm biên khảo Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy SóngMekong Dòng Sông Nghẽn Mạch – nơi giữa những dòng chữ, độc giả có thể ngửi thấy mùi bùn non đồng ruộng chen lẫn với mồ hôi, nước mắt của đồng bào.

Và bây giờ là tuyển tập Ngô Thế Vinh viết về 18 người mà ông trực tiếp có giao tình, có hoạt động nghệ thuật một thời với họ, hay từng là môn sinh. Nơi đây chữ của ông kể lại nhiều thập niên từ quê nhà tới quê người, qua 18 người hoạt động văn học và văn hóa độc đáo, và họ là một phần những gì đẹp nhất của một thời Việt Nam Cộng hòa Trong đó, có những người đã lìa xa, nhưng không bao giờ trôi vào quá khứ – như Võ Phiến, như Thanh Tâm Tuyền, như Mai Thảo, và tất cả -- vì tác phẩm của họ vẫn đang hiện ra trong các sắc màu bất tử của văn học dân tộc, chứ không chỉ riêng của Miền Nam Việt Nam.

Tác phẩm Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá (nơi đây, sẽ gọi tắt là Chân Dung) của Ngô Thế Vinh viết về: Mặc Đỗ, Như Phong, Võ Phiến, Linh Bảo, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn-Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn, Phạm Biểu Tâm, Phạm Hoàng Hộ.

Trong đó, hai người cuối danh sách là hai nhà khoa học, từng là thầy của Ngô Thế Vinh trong Đại học Y Khoa.

Hà Nội năm nay không có mùa thu?

(Đoản thiên tùy bút)

Đào Tiến Thi

Nằm trong khu vực nhiệt đới hoàn toàn mà Hà Nội nói riêng, miền Bắc Việt Nam (bao gồm cả Bắc Trung Bộ) nói chung có hai mùa xuân – thu tươi đẹp và thơ mộng. Cứ “duy lý” mà nói thì đó là do gió mùa đông bắc đem lại. Còn cứ “duy cảm” mà nói thì đây là “đặc sản”, là thứ quà tặng của Tạo hóa ban riêng cho dân Bắc Việt chúng ta.

clip_image002

Có lẽ không ai làm văn thi sỹ mà không có chí ít đôi dòng về mùa thu. Cho nên Xuân Diệu mới nói mùa thu cứ như từ xưa mà về. Văn chương truyền thống Việt Nam ảnh hưởng văn chương Tàu cổ. Nhưng sự ảnh hưởng của văn chương Tàu cổ có lẽ không chỉ do mô phỏng khuôn mẫu cổ điển, không chỉ do cùng sử dụng Hán tự mà còn do tính chất tương đồng về thủy thổ chăng?

Đáo [thô] bỉ ngạn cùng Đỗ Lai Thúy

Đặng Thân


Đỗ Lai Thúy vừa ra sách mới, Bờ bên kia của viết (NXB Hội Nhà Văn, 2017), cả một cái tên của tuyệt đỉnh chữ. Nhà xuất bản có lời giới thiệu (hơi bị "công chức"):

[...] Chính lý thuyết đã cho Đỗ Lai Thuý nhìn mới đối tượng và, quan trọng hơn, cách tiếp cận đối tượng ấy. Phê bình văn học của ông, do vậy, dù ngắn hay dài đều là phê bình học thuật. Nghĩa là ông thiên về tìm kiếm những giá trị mới, những phương pháp mới, nhất là những thứ có thể tạo ra sự chuyển đổi hệ hình. Tuy say mê lý thuyết như vậy, nhưng, Đỗ Lai Thuý không ứng dụng đơn giản, mà chủ yếu là trải nghiệm lý thuyết qua những thực hành phê bình cụ thể. Tập tiểu luận Bờ bên kia của Viết, tuy là một tập hợp, nhưng là một tập hợp có ý đồ, có cấu trúc. Nó chẳng những bộc lộ ít nhiều viết-Đỗ-Lai-Thuý mà chúng tôi vừa trình bày một cách cô đọng ở trên, mà cả những gì đằng sau viết ấy, tức "bờ bên kia của viết" mong bạn đọc cùng ông "đáo bỉ ngạn".

‘‘Giấu bài’’ đến cùng : Bí quyết thâu tóm quyền lực của ‘‘Tập hoàng đế’’

Trọng Thành

clip_image001

Làng được mệnh danh là làng "Tập" (Lương Gia Hà/Liangjiahe), ở tỉnh tây bắc Thiểm Tây. Bức hình tuyên truyền trong ảnh có ông Tập ở giữa, chỉ đường cho nông dân. Ảnh : RFI/Heike Schmidt

Đại hội 19 của đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa khai mạc là chủ đề chính của nhiều báo Pháp hôm nay. « Tập Cận Bình trên đường đến đỉnh cao quyền lực » tựa trang nhất của Le Figaro. Báo kinh tế Les Echos chạy tựa chính : « Tập Cận Bình lên ngôi ». Cho dù còn những tranh chấp trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng việc ông Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo nắm « quyền lực tuyệt đối » đầu tiên tại Trung Quốc, kể từ thời Mao, là điều không gây ngạc nhiên. Le Figaro có bài lý giải bí quyết dẫn Tập Cận Bình trở thành « Hoàng đế đỏ ».

Cấm dạy ngoài sách giáo khoa là phản giáo dục

LĐO

clip_image001

Học sinh không thể tự học mà thiếu sự hướng dẫn của giáo viên. Ảnh minh họa, nguồn: Kênh tuyển sinh.

“Không dạy nội dung, bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; tuyệt đối không dạy nội dung ngoài sách giáo khoa”.

Trò chuyện với nghệ sỹ Daniel Rode

Thứ năm, 29.10.2017, 19h00 – 20h30

SALON SAIGON

6D Ngô Thời Nhiệm, Quận 3, Tp.HCM

Do chỗ ngồi có giới hạn, vui lòng đăng ký tại e-mail: info@salonsaigon.com

Link: www.danielrode.de

Nghệ sĩ Đức Daniel Rode (sinh năm 1971) nhận học bổng của Quỹ Văn Hóa Bang Sachsen và trở thành Nghệ Sỹ Lưu Trú tại viện Goethe Hà Nội từ tháng 9. Anh hiện là nghệ sỹ thành viên của dự án quốc tế “Tháng Thực Hành Nghệ Thuật” do Heritage Space Hà Nội tổ chức, và sẽ tham gia giảng dạy một tuần ở các trường đại học Hà Nội và Huế.

Đài phát thanh quốc gia Séc phỏng vấn ông Nguyễn Quang A

clip_image001

Ảnh reuters.com

Ngày hôm nay, ông Nguyễn Quang A, một nhà kinh tế, doanh nhân và một nhà hoạt động chính trị đáng nể trọng, sẽ phát biểu tại Forum 2000(1). Ông muốn nói đến các tiếng nói đang ngày càng mạnh mẽ hơn đòi một sự thay đổi dân chủ, và về việc chế độ cộng sản đang cố gắng dập tắt các tiếng nói này - thậm chí với cái giá là vi phạm luật pháp và các ràng buộc của chính mình.

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 11)

Hoàng Tuấn Công


Có những thành ngữ liên quan đến điển cố, điển tích được GS Nguyễn Lân chú thích, nhưng lại quá chung chung và sơ sài:

○ “kết cỏ ngậm vành (Theo truyền thuyết của Trung Quốc, có chuyện kết cỏ vào chân kẻ thù của người đã làm ơn cho mình và chuyện con chim bị thương ngậm một vòng ngọc đến trả ơn người đã nuôi nó) Có nghĩa là đời đời nhớ ơn”.

Thứ nhất: Chính tác giả cũng không hiểu rõ, nên giải thích điển tích rất lơ mơ, hầu như không giúp gì cho người sử dụng từ điển. “Kết cỏ ngậm vành” vốn là thành ngữ gốc Hán Kết thảo hàm hoàn - 結草含環, liên quan đến hai điển tích “Kết thảo” và “Hàm hoàn”:

Tích Kết thảo [結草 - Kết cỏ] như sau: Thời Xuân Thu, Ngụy Vũ Tử [魏武子] có người thiếp yêu, khi mới lâm bệnh thì dặn con trai là Ngụy Khoả [魏 顆] rằng: Sau khi ta chết, để bà ấy tái giá. Nhưng đến phút lâm chung, ông lại nói: Khi ta chết, chôn bà ta theo cùng. Khoả nghĩ lời dặn của cha lúc đã mê loạn rồi nên không theo, vẫn cho ngườit thiếp ấy về lấy chồng. Về sau, Ngụy Khoả được làm tướng, đánh nhau với quân Tần là tướng Đỗ Hồi [杜回]. Mới đánh nhau được mấy hiệp, Đỗ Hồi đã ngã lăn xuống đất, Ngụy Khoả thúc ngựa bắt sống. Đêm ấy, Ngụy Khoả nằm mộng thấy một ông già đến tạ ơn, bảo rằng: Tôi là cha người thiếp được ông cứu sống, vì cảm cái ơn ấy, tôi đã kết cỏ làm vướng chân ngựa của Đỗ Hồi để giúp ông bắt sống, đó là chút công xin báo đáp ơn ông.

Năm ngày ở Tu viện Mộc Lan

Ghi chép của Hoàng Hưng


Namo Avalokiteshvara… Không lần nào nghe bài tụng hồng danh Quán Thế Âm Bồ Tát của tăng thân Làng Mai mà tôi không rớm lệ. Cả vũ trụ bao la tình bi mẫn. Và sao cứ hiện về hình ảnh lần nghe đầu tiên, các sư em và thiền sinh tu viện Bát Nhã năm nào ngồi xếp bằng tụng ca tên Mẹ trước bầy người hung hãn đợi lệnh xông vào. Gương mặt họ sáng lên một ánh sáng lạ kỳ, còn mình thì cứ chảy nước mắt…

Gần mười năm rồi. Tối nay cũng lại bài tụng ấy mở đầu khóa tu “Tâm an, thế giới an” 5 ngày ở Tu viện Mộc Lan (Magnolia Monastery), bang Mississipi Hoa Kỳ. Lại gặp những gương mặt thuở ấy, nay đã rắn rỏi trong cương vị điều hành hay giáo thọ của một Trung tâm Thiền xa quê hương vạn dặm: Sư cô Hỷ Nghiêm, Sư cô Khải Nghiêm, các thầy Pháp Hội, Pháp Sĩ, Pháp Tịnh…

Vẫn cứ bất ngờ, như đã từng bất ngờ ở Làng Mai bên Pháp năm nào, trước sức thu hút của một sư em Việt nhỏ xíu trẻ măng, với một giọng Mỹ đầy truyền cảm, dẫn dắt gần 200 thiền sinh người nước ngoài từ các bang Hoa Kỳ, cả từ nước khác nhân qua Hoa Kỳ thăm con gặp khóa tu cũng tới dự, với sự dí dỏm khiến những ông Tây bà đầm mái đầu bạc phơ chốc chốc lại cười vui như con trẻ.

Phải, đã là nếp sống của Làng Mai ở bất cứ đâu: đến với Làng, học hay tu, thiền hành hay rửa bát, đều là tiếng cười, đều là thực tập “pháp môn hạnh phúc”.

TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI VÀ QUYỀN TỰ DO BIỂU TÌNH

(Cập nhật đợt cuối, tổng cộng 16 tổ chức và 223 cá nhân ký tên)


CHÚNG TÔI, các tổ chức xã hội dân sự và người Việt sinh sống trong và ngoài nước, nhận định và tuyên bố về quyền tự do lập hội và quyền tự do biểu tình của công dân Việt Nam như sau:

Nhận định

Điều 25 của Hiến pháp ban hành năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp 2013) đã long trọng ghi nhận các quyền tự do bất khả xâm phạm của mọi công dân Việt Nam: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Đáng tiếc là tất cả các quyền tự do nêu trên vẫn chưa được nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm đầy đủ kể từ năm 1946, khi bản hiến pháp đầu tiên được ban hành, cho đến tận ngày nay. Nếu trước năm 1975 do hoàn cảnh chiến tranh, việc thực thi các quyền tự do của công dân chưa được quan tâm đúng mức, thì sau ngày hòa bình được lập lại, tính đến nay đã hơn 42 năm trôi qua, mọi lý do thường dùng để biện minh và duy trì những trở ngại đó không còn phù hợp để tiếp tục ngăn cản các quyền công dân tồn tại trên giấy trở thành hiện thực.

Với mục đích hiện thực hóa Quyền Lập hội và Quyền Biểu tình trong Hiến pháp 2013, gần đây Quốc hội đã đưa vào chương trình nghị sự kế hoạch thảo luận và thông qua hai bản dự thảo Luật Lập hội và Luật Biểu tình. Tuy nhiên, Chính phủ và các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm soạn thảo các dự án luật đó đã không làm đúng và đủ trách nhiệm được Quốc hội giao phó, nên việc ban hành hai luật nói trên đã bị trì hoãn nhiều lần với nhiều lý do không thể chấp nhận.

Hành khúc Hoàng Sa

Nam Dao

. dâng lên Mẹ ở đảo Lý Sơn


                                  tặng N. Ước

 

Biển xanh biển xanh

                                    sóng rì rào

trời xanh trời xanh trời rất cao

Hoàng Sa ở cuối tầm mắt ngắm

thuyền xa

                        thấp thoáng bóng thuyền vào

 

Ta uỡn ngực hít mùi biển mặn

mắt vời những đợn sóng loang xa

cá bạc cá hồng chừng quẫy nước

nhịp vào gió trắng dăm lời ca

Ca rằng:

        đã trăm trăm năm trước

        biển này biển của ta

        từ thuở cha ông vượt khơi quăng lưới

        đánh bắt nuôi đám trẻ ở nhà

 

Bỗng nay hàng đàn tàu lạ

mũi tầu nhọn hoắt nhắm mạn thuyền ta

        sầm sầm đâm tới

            sắt thép đục tan hoang

              mắt giặc hằn gân máu

                 miệng hò tay búa tay dao

 

Đau lòng, lòng thuyền toang toang vỡ

nghe từng lời gió kể xôn xao

thuyền đi đánh bắt ngoài xa lắc

ngỡ đâu

                        tàu lạ chúng đâm vào

 

Chạy thôi!

                        Không chạy anh em ơi!

tay không, lấy lòng làm vũ khí

ta bám vào bám vào bám vào

mặc tiếng hò reo rẻo gió cao

 

Nước ngập mạn thuyền thủng toác hoác

nước tràn

                        nước đẩy

                                                thuyền ngả nghiêng

những con sóng lớn ào ào cuộn

      xô ngang

     đẩy dọc

   cuốn cuồng điên

 

Rồi lúc dẫm chân lên bờ cát

mặt đất dưới chân cứ tròng trành

ta say đất

                        tựa người say sóng

ngẫm phận người sao quá mỏng manh!

 

Liêu xiêu bước tới thăm vựa cá

cá nằm nghiêng ngửa muối ướp trên

từng con cá chết

           trừng trừng mắt

hờn oán gì khi mắt ngước lên

 

Những con mắt vô hồn

                   trắng đục

trơ trơ duới nắng gắt

                    vô tri

Ô hay, thật lạ kỳ

               ta mơ hay ta tỉnh

Mẹ nằm

       lơ lửng giấc mơ đêm

 

Thuyền kéo lưới kéo vào cả xác

Mắt mở toang

                        ánh lân tinh biêng biếc

 Mẹ nhìn

                        liệu Mẹ còn luyến tiếc

                    những phút cuối chốn trần gian?

 

Gió lửa nổi lên

                        bờ bãi tan hoang

thân xác ơi

                thân xác dập dềnh

lưới quấn vào

                 cái sống bấp bênh

chiếc phao nào cứu được ai khỏi cơn hồng thủy?

 

Gào, ta gào tiếng gào kinh dị

       rách yết hầu

     tứa máu

Mẹ nằm

      Môi xám ngoét

mắt vẫn mở to

nhếch nụ cười nhân gian còn chưa biết

vạch giới hạn nào để hiểu nỗi mênh mông

 

Chốn này giấc mộng

                        chưa đáng một tiếng cười

    xin người cho phép

                        đặt môi lên môi người

Ta nhắp môi mẹ vị cá chết

                        đắng tanh quyền, lợi, sân, si

 

Trời xanh biển xanh sóng trùng trùng

Hoàng Sa đảo xa bờ xanh xanh

đôi mắt mẹ tôi trừng trừng mở

như vẫn còn ca khúc biệt hành:

            Hoàng Sa trời biển mênh mông

            người đi đi mãi mà không thấy về

 

Hoàng Sa đảo xa đảo chuếnh choáng[*]

nước trôi nước chảy

                                    nước về đâu

đôi môi mẹ vẫn vị cá chết

           ta biết chôn người ở chốn nao

mộ gió chiêm bao thời rách nát

ta nuốt vào đâu một nỗi đau

 

Nỗi đau, đau đến mềm phế phủ

đau đời này, đau đến đời sau

 

 

VT 2/ 2016. - Quebec 10/2017

 



[*] Chữ Tô Thùy Yên.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Con người nào thì làm ra văn hóa ấy…

Nhà văn Nguyên Ngọc: Con người nào thì làm ra văn hóa ấy….

Lời Tòa soạn: Nhân sự kiện Đà Nẵng quy hoạch và thực hiện một số dự án xây dựng ảnh hưởng đến hệ sinh thái bán đảo Sơn Trà bị dư luận phản ứng, VHNA đã có cuộc trao đổi với nhà văn Nguyên Ngọc, một công dân xứ Quảng rất am hiểu xứ Quảng – Quảng Nam & Đà Nẵng về vấn đề này, về văn hóa & người xứ Quảng.

Phan Văn Thắng: Thưa nhà văn, chúng tôi xin phép được ông trao đổi một số về tình hình văn hóa nước nhà hôm nay. Tôi xin được bắt đầu câu chuyện từ xứ Quảng của ông. Đó là câu chuyện bán đảo Sơn Trà của Đà Nẵng đã bị xẻ thịt cho các dự án xây dựng khách sạn. Nếu đặt câu chuyện này (mà hầu hết ai cũng biết) bên cạnh câu chuyện ông Nguyễn Sự nâng niu chăm bẵm Hội An, và những câu chuyện khác nữa, của xứ Quảng, của cả nước, ông rút ra những điều gì về phương diện văn hóa?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Vì anh đã bắt đầu câu chuyện bằng cách nhắc đến Đà Nẵng với vụ Sơn Trà, nên tôi cũng xin bắt đầu từ đó, bởi vì hẳn chuyện Đà Nẵng không hề là cá biệt. Hơn thế nữa, trường hợp Đà Nẵng là rất đáng suy nghĩ: khủng hoảng âm ỉ của thành phố này từng được che giấu dưới một vẻ hào nhoáng bên ngoài trong một thời gian khá dài.

Thật vậy, nhiều năm qua Đà Nẵng từng được dư luận coi là thành phố phát triển rất tốt, tốt nhất, thậm chí là “thành phố đáng sống” nhất nước … Thế rồi, đột ngột, bùng ra đủ thứ chuyện lôi thôi về Đà Nẵng, trong đó chuyện Sơn Trà chỉ là một, và nó cũng lại dính với những chuyện lôi thôi kia đang rất rối rắm và ngày càng rõ không phải bây giờ mới có. Có đột ngột không? Có phải bây giờ mới có không? Chắc chắn là không. Ở đây tất phải có một cái gì đó chung, gốc gác, và đã từ rất lâu.

Trên tất cả đỉnh cao là lặng im (*)

Tuấn Khanh

Lũ quét phá hủy một căn nhà ở tỉnh Hòa Bình hôm 13/10/2017

Lũ quét phá hủy một căn nhà ở tỉnh Hòa Bình hôm 13/10/2017. AP

Chứng kiến nhiều trận lũ lụt tang thương nơi xứ Việt, tôi vẫn hay tự nhắc mình phải viết một bài hát nào đó về những điều đã thấy, về những sinh linh đã tận. Ca hát thì chẳng để làm gì. Nhưng tôi mong mình cất lên được tiếng lòng như bài văn tế nhỏ cho những người cùng màu da, tiếng nói trên quê hương mình hôm nay, sao vẫn mang đầy khổ nạn. Có thể tôi chỉ hát khe khẽ thôi, vừa đủ cho những linh hồn oan khiên về quanh được chút ấm lòng.

Thế nhưng, nhiều năm trôi qua. Lũ lụt hết lần này đến lần khác. Mạng người lại vẫn chìm sâu. Tôi lại chất chồng trong ký ức của mình về ruộng vườn tan hoang, những tiếng khóc trôi dạt buồn tủi, và biết rằng mình sẽ không viết nổi một bài hát như vậy, mà chỉ còn im lặng. Sự im lặng khó tả nằm hoài trên trang giấy và suy nghĩ, như khoảng vô thanh điên loạn giữa rầm rộ ngôn từ.

Ở cõi thiếu, vắng

Hồ Đình Nghiêm


Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều này, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn màu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Ý thức sáng tác truyện ngắn (kỳ cuối)

Ví dụ truyện tự thức, Postorem.

Kẽ nứt nhàm chán trên tường tử sinh

Ngu Yên


Khi đầu đập vào tường,

nếu đầu không vỡ, tường sẽ nứt.

Có khi cả hai đều vỡ, chỉ đầu chảy máu.

Có khi cả hai không vỡ, đầu xuyên qua.

Xuyên qua tường Tử Sinh, tôi là Phạm Chánh Kiến. Một hồn ma đã chán cõi âm, chán sự thật, muốn trốn vào cõi sống, tìm hứng thú.

Ma biết hết chân lý, thực chất vô thần và vô cảm. Giả dối thích hơn. Cả đời sợ người khác khám phá. Phải giả bộ, giả hình. Phải lừa bịp. Phải hồi hộp. Phải lo âu. Phải luôn luôn giấu giếm. Căng thẳng sinh thú vị.

Người đưa tin

Truyện Từ Thức


Gã thiếu úy trẻ tuổi đứng trước căn nhà cuối hẻm, rút khăn lau mồ hôi bóng nhẫy chất dầu trên trán. Trời oi nồng, bao nhiêu mỡ trên người tan thành mồ hôi nhớp nháp. Người quân nhân đứng ngoài cổng, nhìn vào khuôn vườn rộng vừa bằng một mảnh chiếu, rực rỡ màu sắc với những chậu hoa tím, vàng, những trái ớt nồng nàn, mọng đỏ như môi một người đàn bà lẳng lơ. Y rút một điếu Quân tiếp vụ, cắm lên môi hút, thở khói lơ đãng. Buổi trưa lười biếng, uể oải. Nghe cả tiếng ruồi bay và tiếng xe cộ từ con lộ ngoài kia vọng vào.

Có tiếng đàn bà cười trong nhà. Tiếng cười thanh và ngọt nước dừa Biên Hoà. Viên thiếu úy gõ nhẹ trên cửa. Người mở cửa là một thiếu phụ với khuôn mặt rất tươi, vừa tắm xong, tóc còn ướt, đen bóng, những giọt nước mát trên cánh tay tròn như tiện. Người đàn bà mát mẻ như một miếng dưa hấu đầu mùa.

Xin vĩnh biệt chị Đặng Thị Thanh Biên

Ban Biên tập Văn Việt rất đau xót được tin chị Đặng Thị Thanh Biên, phu nhân TS Nguyễn Xuân Tụ, tức Hà Sĩ Phu, đã từ trần hồi 5g40 sáng ngày 13/10/2017 tại nhà riêng.

Gần 30 năm trước, khi Nguyễn Xuân Tụ ký bút danh Hà Sĩ Phu dưới một tiểu luận ngắn "Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ", là anh bắt đầu bước vào con đường gian truân của một trí thức đau đáu vì vận nước. Anh bị tù, bị quản chế nhiều năm, bị đấu tố nhiều lần ở phường và tổ dân phố; gia đình bị cắt điện thoại suốt 11 năm. Đằng sau con người trí thức lẫm liệt ấy, là một người thầm lặng làm điểm tựa vững chắc cho anh: chị Đặng Thị Thanh Biên – vợ anh.

Anh Hà Sĩ Phu ơi! Văn Việt xin chia buồn cùng anh! Mong anh vượt qua nỗi đau này để cùng anh em tiếp bước trên con đường đấu tranh vì một nước Việt dân chủ và hùng cường.

Ban Biên tập Văn Việt

Văn học miền Nam 54-75 (443): Túy Hồng (13)

Tôi nhìn tôi trên vách (10)

Cả tuần nay Nghiễm chỉ ăn cháo, buổi trưa cháo đậu xanh, buổi chiều chân giò hầm với bo bo. Chàng bỏ buổi làm về nửa chừng, chiều thứ ba đang thu thanh thì chàng về nhà nằm. Nghiễm mách nhỏ:

– Anh khạc ra một tí máu em ạ!

Tôi vừa quấn tã cho con vừa cười:

– Không can gì đâu. Hồi xưa em bị hoài. Ông thầy dạy vạn vật của em bảo đó là do mao quản bị đứt gãy ra. Em bị hoài à. Tôi quay lại. Cả khuôn mặt của Nghiễm bệch bạc mệt lả như cá biển lên khỏi nước mặn, tôi vuốt vai chàng. Hồi xưa em bị hoài à, bây giờ vẫn còn bị. Mấy sợi mao quản nó đứt ấy mà, mao quản là những dây máu nhỏ như tóc. Để hôm nào em bị, em nhổ xuống đất rồi em gọi anh ra xem.

Nghiễm phát một nét cười lơ lửng. Tôi tiếp:

– Mao quản nhỏ như tóc nên dễ bị đứt lắm. Khi nào mình khan cổ thì bị, uống rượu mạnh hay khan cổ lắm. Anh đừng uống rượu manh nữa.

Virginia Woolf

Thường Quán

clip_image002

Khi không thể thấy những chữ cuộn khum thân như những vòng khói tròn quanh tôi,
tôi chìm trong tối tăm – tôi không là gì cả.
[When I cannot see words curling like rings of smoke around me,
I am in darkness – I am nothing.]
Virginia Woolf, The Waves

VIRGINIA WOOLF mất trước khi điện ảnh thực sự trưởng thành. Ngày nay có lẽ giới mê điện ảnh cũng không hề nghĩ tới Virginia Woolf khi thưởng thức những Jean-Luc Godard, Robert Bresson, hay những người làm phim Ý, Pháp, Bỉ thuộc thế hệ "hậu Đợt Sóng Mới" những Jean Eustache, Jacques Rozier, hay Philippe Garrel, Chantal Akerman. Dòng ý thức, khoảnh khắc hữu thể, độ nhám của đời, thời gian nội tại, song trùng ý thức,… những món này bây giờ đã nằm gọn trong không khí, tinh thần và ngôn ngữ điện ảnh hiện đại quen thuộc như khi một nhà làm phim nói tới phép segues, tới tan mờ và cắt nhanh và rực hiện /dissolves & jumpcuts. Chuyện Virginia Woolf giờ đây được biết tới qua cuốn phim The Hours của Stephen Daldry lại là một chuyện cũng có tính irony, một nghĩa oái oăm. Giữa The River của Jean Renoir (1951) và The River của Tsai Ming-liang (1997), bao nhiêu chữ nghĩa đã trôi ra biển. Dòng sông Ouse, khúc Rodwell, có một người ngồi áo đỏ thả câu, rồi viên sỏi lòng tay lần vào túi áo, áo choàng và gậy đặt lại trên bờ, cảnh ấy thuần một thôn dã êm đềm, như chẳng có chi gay cấn hiện đại. Dù sao muộn còn hơn không, ít ra là với đại chúng, để cái tên Virgina Woolf lại được nghe, sau những bặt tăm và úy hãi ["Who’s afraid of Virginia Woolf?" – như một tựa kịch]. Nói cho đúng Stephen Daldry đã làm một cuốn phim ít ai chê, cộng cả nhạc nền minimalist tối giản của Philip Glass phù hợp với austere & ascetic khắc kỷ, đạm thanh một cách của Woolf [như người ta tưởng tượng], và như vậy là một homage đáng kể cho nhà văn, bước vào tân thế kỷ. Michael Cunningham đã viết một adaptation khéo léo hiếm thấy, lắp ghép ba khung thời gian, ba không gian, mà những nhân vật kết thêm vào: Clarrisa Vaughan, Richard, Laura Brown, cũng là những mặt và góc cạnh làm nên một kẻ đi mua hoa về mở tiệc. Một bó hoa, một bàn tay trong găng, một hàng rào sắt cast-iron, một bóng phi cơ rù vang âm vọng nền trời nhắc nhở thời chiến vừa đi qua, sắp trở lại, một váng nước xanh. Một ngày một người bước ra, cuộc đời trần thiết, hiện sinh mở tiệc.

Ngô Thế Vinh: Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa (*)

Trịnh Y Thư

clip_image002

1.

Văn học Việt Nam truyền thống không có bộ môn tiểu sử. Hay nói cho rõ hơn, không có những công trình dài hơi, thấu đáo, viết về chẳng những sự nghiệp mà cả thân thế đời sống riêng tư của các văn nghệ sĩ làm nên văn học sử nước nhà. Bên trời Tây, họ có truyền thồng này ngay từ thời Trung đại. Nhờ thế, qua Thayer, chúng ta biết những “Người tình bất tử” của Beethoven chẳng qua chỉ là sản phẩm tưởng tượng nằm bên trong khối óc âm nhạc kì vĩ nhất của nhân loại; và nhờ nữ sĩ Elizabeth Gaskell viết cuốn tiểu sử Charlotte Brontë chúng ta biết nhân vật Rochester trong cuốn tiểu thuyết kiệt tác Jane Eyre được xây dựng từ một hình tượng có thật, đó chính là ông thầy dạy học Charlotte thời bà còn là cô gái trẻ du học bên xứ Bỉ và cô nữ sinh trong trắng đem lòng yêu thầy mình, một người đàn ông đã có vợ. Hiểu biết tường tận hơn về con người cá thể của tác giả, các nhà nghiên cứu hai ba trăm năm sau có thêm trong tay cơ sở quy chiếu để đọc văn bản từ một góc độ độc lập nào đó, tâm lí học chẳng hạn, và rất có thể có cái nhìn phân tích thú vị và trung thực hơn về tác phẩm.

Nguyễn Thanh Việt 'khiêm nhường' với giải MacArthur danh giá

Hoàng Long



Nhà văn Nguyễn Thanh Việt trong phòng làm việc của anh tại Đại học Nam California, Los Angeles, California, ngày 23 tháng 9, 2017 (Hình: John D. & Catherine T. MacArthur Foundation)

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt trong phòng làm việc của anh tại Đại học Nam California, Los Angeles, California, ngày 23 tháng 9, 2017 (Hình: John D. & Catherine T. MacArthur Foundation)


Tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Việt, Nguyễn Thanh Việt, một lần nữa khiến mọi người chú ý với giải thưởng MacArthur Fellowship danh giá do Quỹ MacArthur, một tổ chức tư nhân phi lợi nhuận lớn thứ 12 ở Mỹ, trao tặng.

Giải thưởng trị giá 625.000 đôla không kèm điều kiện ràng buộc, vinh danh 24 cá nhân “sáng tạo xuất chúng” đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như một “sự đầu tư vào tiềm năng của họ.”

Ngay sau khi tin về giải thưởng được công bố lên truyền thông, người từng đoạt giải Pulitzer 2016 cho tác phẩm hư cấu ‘The Sympathizer’ (Cảm tình viên), chia sẻ với VOA những cảm xúc và suy nghĩ của anh về vinh dự mới nhất cũng như những dự định tương lai với khoản tài trợ hào phóng này.

Hoàng Văn Hòe, nhà thơ uyên bác, danh sĩ chống Pháp

(Kỷ niệm 130 năm ngày Cụ hy sinh vì nước)

Hoàng Văn Sơn

(Hậu duệ đời thứ Tư cụ Hoàng Văn Hòe)

Những năm giữa và cuối thế kỷ XIX, khi Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta, trong khi triều đình nhà Nguyễn phải ký các hòa ước cắt đất nhượng bộ, thì nhân dân ta ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước nổi lên khắp nơi, liên tục chống quân xâm lược. Ở Bắc kỳ, trong số các nhà Nho nổi dậy, tiến sĩ Hoàng Văn Hòe đã chiêu mộ nghĩa quân, phối hợp với một số sĩ phu khác đánh Pháp trong hơn mười năm.

Hoàng Văn Hòe người làng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sinh năm Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1848), mất năm Ất Dậu 1885 hoặc Đinh Sửu 1887 (?). Cụ là con thứ 11 của Ngự sử Hoàng Huy Định (Hoàng Văn Định) và cụ bà Trần Thị Năm. Hoàng Huy Định là Giám sát Ngự sử Hà Ninh, đã từ quan về làng dạy học năm 1835, vì cáo buộc kẻ quyền thần là Hà Duy Phiên không thành. Hoàng Văn Hòe tự là Vương Trực, hiệu Cổ Lâm, biệt hiệu Hạc Nhân, đỗ cử nhân khoa Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 23 (1870), đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1880) năm 33 tuổi, được khắc tên trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu. Năm Tân Tỵ, niên hiệu Tự Đức thứ 34 (1881) cụ đỗ thứ hai khoa “Văn học yêm Bác” (khoa thi đặc biệt về văn chương dành cho người trước đó đã đỗ tiến sĩ loại xuất sắc). Cụ được bổ làm Hàn lâm viện Tu soạn. Tháng Chạp năm 1882, thăng hàm Thị độc (chức quan trong Hàn lâm viện giữ việc đọc sách cho vua), được bổ làm tri phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Tháng 6 năm Ất Dậu (1885), được vua Hàm Nghi triệu vào kinh, bổ làm Tập hiền viện thị độc (Học viện cao cấp chuyên nghiên cứu, giảng dạy cho nhà vua, hoàng tử, và quan lại cao cấp trong triều), sung Kinh diên khởi cư chú (thư ký ghi lời nói, hành động của vua), Phụng nghị đại phu.

Thầm lặng hy sinh

Lê Phú Khải

Tôi mượn cụm từ “Thầm lặng hy sinh” của trang mạng Bauxite (15.10.2017) chia buồn với Tiến sĩ Hà Sĩ Phu về sự ra đi của chị Đặng Thị Thanh Biên, người bạn đời của ông, làm đầu đề cho bài viết này.

Năm 1988, sau khi vô tình đọc được bài tiểu luận “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” in rô-nê-ô ký tên Hà Sĩ Phu, ở Đà Lạt, tôi bất ngờ quá và muốn lên Đà Lạt gặp tác giả xem con người này “mặt ngang mũi dọc” như thế nào. Tôi xin đi theo đoàn công nhân chăn heo của Xí nghiệp Liên hợp chăn nuôi tỉnh Tiền Giang đi tham quan Đà Lạt năm đó. Giám đốc xí nghiệp là anh Năm Phước đồng ý cho tôi đi không mất tiền với tư cách là một nhà báo của cơ quan ngôn luận Trung ương thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long, đi quan sát...

Anh Tụ (Nguyễn Xuân Tụ), tên thật của Hà Sĩ Phu, là một người thấp, nhỏ, để ria mép, tính cách hiền hậu, ôn hòa rất dễ gần, dễ mến. Tôi lúc đó cứ suy nghĩ miên man, không hình dung ra một con người dáng vẻ bề ngoài thế này... lại có một tư duy sắc sảo, quyết liệt đến thế? Chị Biên vợ anh là một phụ nữ cao lớn, vẻ mặt phúc hậu, ít nói. Chị lặng lẽ rót thêm nước sôi vào bình trà cho chồng tiếp người khách... không mời mà đến là tôi! Lúc đó anh chị có một cái “quán cóc” bán những đồ lặt vặt như bánh kẹo, mỳ gói, nước ngọt... ngay tại nhà.

Thơ Hồ Minh Tâm

Khái niệm buồn

 

là một cái gì đó loòng thoòng khó vuốt ve bởi độ trơ lâu đời của nó

ấy thế mà cứ phải nhỏ nhẹ vuốt ve

âm thanh nó lắng nghe

tiếng trở mình của tiếng thở

 

là một cái gì đó định hình không biên độ

[chẳng hiểu có định hình biên giới]

những lối mòn dích dắc

những lối lạ dích dắc

đôi bàn tay ủ ấm

lan xa

 

là một cái gì đó vuông rồi tròn, hoa rồi quả

như tiếng thở dài vừa khôn đã dại

như cái nhìn vừa loãng tan đã kết tinh

mồn một & vô hình

ngoài ban công leng keng những tiếng cười vắng mặt

 

ta treo cổ giữa kẽ tay mình

nhiều đêm tập nhắm mắt

tập tận hưởng những vì sao đang tỏa sáng

trên lưng bầy kiến

bò quanh

 

là cái gì đó nhiều lần tự vấn

ta sinh ra nó hay nó sinh ra ta

nó thơm tho như tiếng tay mềm chạm cửa

tiếng những bước chân nhợt nhạt rời xa

 

chúng ta [có lẽ thế] đã, đang, và sẽ là những chiến binh kiêu bạc

gục đầu lên nó

đè lên nó mà thất bại

đề lên nó mà cười

đè lên nó

 

chúng ta [có lẽ thế] sao không đập toang cánh cửa

kéo nắng vào

và gió

biết đâu mình lại cho nhau một mùi gì đó

hay ho

 

 

Mưa màu truyền thống

1–

tôi đi 49m về phía trái

nó quát: dừng lại, lãnh địa của thú cưng, cấm loài toan tính

bố khỉ, tớ mang họ đười ươi, biết chút tiếng người có sao không?

2–

tự thưởng cho ku một chiều rỗng

một cốc mùa đông, đầy

một bức tường tự sướng

(chợt nhớ mấy em vừa xinh đẹp vừa khó thương – bức tường nhìn tôi, đắm đuối)

3–

phía phải tôi ngồi là một con đường to

tất nhiên, hai phía nó đi về đâu đó

trên cây chiếc lá bàng đang chuyển vàng sang đỏ

có thể, sớm mai nó sẽ rụng

(lão trà đá vừa lên dây guitar vừa chuyện trò, dò nốt – ta đi trên đường hà nội, rực rỡ chiến công... đường thênh thanh ba đình... đứt cái phựt)

mẹ, toi bộ dây (1 giây nghĩ vậy)

lão không nói, không cười, không tỏ ra mình đang mất mát

dí mồm vào ống điếu, khói thuốc lào lấp loáng, bao dung

dù sao, những cơn mưa trên cao không ngần ngại trút màu truyền thống

4–

hắn đi 49m về phía trái

nó quát: dừng lại, lãnh địa của thú cưng, cấm loài toan tính

bố khỉ, tớ thành thạo làm người, hiện đang trên đường tiến tới mất trí

được không?

em cún trắng, thắt nơ đen và em abc váy đen nơ trắng – bồng nó.

[chu môi chùn chụt & ngoắt đuôi]

thời đại này “nhìn chung chưa bao giờ được thế”

đáng yêu biết bao nhiêu

những tình yêu lạc loài!

 

5–

buổi chiều tay chân không dây nhợ

chỉ lòng

vòng

dây dưa

 

 

Gọi em là nàng


nàng có bụng trên bụng một chút là ngực nàng chút nữa là đôi vai

nàng có cổ đủ cao

nghịch gió

 

nàng có cằm môi mũi mắt lông mày lông mi và vầng trán

trên hết là tóc

trên tóc nàng là cái nhìn của tôi

...

dưới bụng nàng đầy đủ mọi thứ

[thế nàng mới sống được chứ]

 

đôi chân trắng dài đôi giày đen cao

móng chân nàng đẹp như những hạt dưa trên dĩa sứ

trang phục nàng: nhiêu khê... rất khó kể!

[xong phần mô tả]

...

mỗi sáng lẫn trong tiếng còi xe tôi trườn qua nàng, nghĩ:

nàng còn có những gì tôi chưa chạm đến ngoài những thứ trên kia?

chỉ nhớ: nàng có nụ cười rất ổn định!

[xong luôn phần phân tích tâm lý]


& hết

 

 

 

 

 

Đêm – thêm một bài thơ cho mẹ

 

giữa mềm mại cái lằn ranh đen trắng

đêm và con

đêm yên lặng và con trong veo

[ồ không, đêm trong veo còn con thì câm lặng]

thứ gì đó ngân lên 

...

đêm

...

đêm xuyên ngọt đời người.

chừng đó thôi – nửa trái đất này

chừng đó thôi – nửa hành tinh mờ mịt

chừng đó thôi – một kiếp sống đa mang